MỘT SỐ ĐIỂM CẦN CHÚ Ý KHI TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH OCOP GIAI ĐOẠN 2

Thứ tư - 08/09/2021 06:20 17 0
Mục tiêu cốt lõi của Chương trình xây dựng nông thôn mới là không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân. Chương trình OCOP là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới. Chúng ta thực hiện chương trình giai đoạn 2018- 2020 trong điều kiện hết sức khó khăn thách thức: Là một chương trình còn khá mới mẻ thực hiện trong điều kiện hết sức khó khăn, xuất phát điểm thấp, điều kiện khí hậu thời tiết diễn biến phức tạp, do ảnh hưởng dịch COvid -19, suy thoái kinh tế, nguồn lực gặp khó khăn; các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn chậm đổi mới trong đó có (Hợp tác xã) chưa đáp ứng cơ chế thị trường; Nhận thức của một số cán bộ Đảng viên và nhân dân bước đầu còn hạn chế, cơ chế chính sách, cải cách hành chính chưa kịp thời nên việc tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện ở một số nơi còn thiếu cụ thể, thiếu quyết liệt. Song với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các Bộ ngành Trung ương; với quyết tâm chính trị cao của cấp ủy chính quyền, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, đặc biệt là sự đồng tình, hưởng ứng của người dân, biết phát huy tiềm năng, lợi thế là tỉnh đất rộng, người đông có bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa, nhân dân cần cù chịu khó, đa dạng cây trồng vật nuôi, cộng với những chính sách, chương trình, đề án về phát triển kinh tế xã hội được tỉnh, các huyện ban hành, tổ chức thực hiện trong thời gian qua đã và đang phát huy hiệu quả góp phần vào thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh sản phẩm OCOP, nâng cao giá trị hàng hóa làm tăng thu nhập và góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần ở nông thôn.
Mỗi vùng nông thôn có nhiều tiềm năng, lợi thế, cơ hội riêng: Mỗi vùng miền khác đều có các sản vật riêng của mình đó là các giống cây trồng, vật nuôi riêng mà chỉ ở vùng đất đó mới có; là công nghệ truyền thống mà cha ông họ đã tích lũy từ nhiều đời nay, có bản sắc văn hóa, có vị trí địa lý tiểu vùng khí hậu, chất đất riêng... Đó là cái mà các địa phương, các doanh nghiệp nơi khác không có ở đây gọi là lợi thế so sánh. Chiến lược Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) là phát triển hàng hóa và dịch vụ dựa trên lợi thế của vùng nông thôn. Đó là các sản vật/đặc sản, tri thức, văn hóa truyền thống và cảnh quan vùng nông thôn. Để giai đoạn 2021 - 2025 đạt kết quả đề ra chúng ta cần chú ý và thực hiện tố một số nội dung sau đây:
1) Cần tuân thủ 3 nguyên tắc của OVOP toàn cầu trong toàn bộ các hoạt động của Chương trình: a) Hành đông địa phương nhưng hướng đến toàn cầu; b) Tự lực – Tự tin – Sáng tạo; c) Phát triển nguồn nhân lực:
Hành động địa phương hướng đến toàn cầu: Nghĩa là các sản phẩm OCOP phải hướng đến thị trường toàn cầu hóa hiện nay, có thể cạnh tranh tại thị trường trong nước và xuất khẩu. Để gia nhập vào thị trường toàn cầu hóa, các sản phẩm cần được cải tiến, thiết kế lại cho phù hợp thị hiếu của người tiêu dùng; cần đáp ứng các tiêu chuẩn/yêu cầu và vượt qua được các hàng rào kỹ thuật của thị trường đích, như truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn organic,... khi muốn xuất khẩu. Để làm điều này, cần thay đổi hình thức tổ chức sản xuất, trong đó tập trung vào hình thành (nếu chưa có), tái cơ cấu (nếu đã có) và hỗ trợ các tổ chức kinh tế tại cộng đồng (HTX, các doanh nghiệp nhỏ và vừa) hơn là các cá nhân, hộ gia đình đơn lẻ, để có pháp nhân, từ đó công bố tiêu chuẩn chất lượng và có nguồn lực nhiều hơn để tổ chức sản xuất ở qui mô lớn hơn, ứng dụng được các công nghệ mới trong sản xuất và kinh doanh.
 Tự lực, tự tin và sáng tạo: Nghĩa là người dân tham gia OCOP với niềm tin mình có thể phát triển, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm lợi thế của mình; triển khai bằng nguồn lực sẵn có của mình, dưới các dạng vốn đa dạng (như tiền, đất đai, sức lao động, (bí quyết) công nghệ truyền thống), văn hóa, cảnh quan địa phương; liên tục sáng tạo và cải tiến sản phẩm/dịch vụ của mình nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Để làm điều này, Nhà nước kiến tạo môi trường sáng tạo cho người dân thông qua triển khai Chu trình OCOP, trong đó khởi đầu từ việc người dân đề xuất ý tưởng sản phẩm, triển khai sản xuất, kinh doanh sản phẩm của mình bằng vốn chủ trước, có đánh giá và phân hạng sản phẩm, từ đó người dân xác định được các điểm còn yếu của sản phẩm để cải tiến và tiếp tục dự cuộc thi đánh giá và phân hạng tiếp theo. Để người dân tự tin hơn, Nhà nước tổ chức đào tạo/huấn luyện cho người dân về các kiến thức, kỹ năng của sản xuất, quản trị kinh doanh, kết nối các nguồn lực,…
 Đào tạo nguồn nhân lực: Nghĩa là đào tạo, huấn luyện một cách bền bỉ đội ngũ lãnh đạo, quản lý của các tổ chức kinh tế của cộng đồng tham gia OCOP, từ đó hình thành đội ngũ doanh nhân mới tại vùng nông thôn. Hình thành một ngành đào tạo mới, song song với đào tạo "trình độ cao" ở các trường đại học và cao đẳng, cho các lãnh đạo, quản lý và nhân viên chủ chốt của các tổ chức kinh tế tại cộng đồng tham gia OCOP. Các chương trình đào tạo/huấn luyện được thiết kế riêng cho đối tượng có trình độ học vấn thấp hơn, thiết thực hơn và có phần thực hành bám sát các tình huống thực tiễn vận hành sản xuất kinh doanh các tổ chức kinh tế tại cộng đồng.
Các nguyên tắc này được tích hợp trong Chu trình OCOP thường niên và các giải pháp thực hiện Chương trình.
2) Cần tuân thủ nghiêm túc Chu trình OCOP thường niên,
Thường niên có nghĩa là năm nào cũng thực hiện. Chu trình có nghĩa là tuân thủ đầy đủ và đúng thứ tự các bước không ăn bớt làm tắt, không đi ngược.
3) Cần có sự vào cuộc quyết liệt thực chất của cả hệ thống chính trị
Như chúng ta đã biết chương trình OCOP không đơn thuần là chương trình kinh tế, mà còn tham gia thực hiện các vấn đề chính trị, xã hội ở vùng nông thôn như vậy, việc triển khai OCOP là trách nhiệm của hệ thống chính trị ở vùng nông thôn. Để triển khai sản phẩm cần phải có hình thành và tái cấu trúc các HTX, doanh nghiệp ở vùng nông thôn, từ đó làm cho người dân, thông qua góp vốn vào các HTX, doanh nghiệp, trở thành chủ nhân của quá trình phát triển. Điều này phù hợp với các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước là phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa với vai trò quan trọng của kinh tế hợp tác; với mục tiêu phát triển 1 triệu doanh nghiệp,…; Chương trình tham gia tạo công ăn việc làm, thu nhập thông qua sản xuất và kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ có lợi thế. Điều này phù hợp với các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước là hạn chế di dân đến các thành phố tìm công ăn việc làm; Chương trình có nhiều hoạt động hỗ trợ cộng đồng, thông qua đào tạo, huấn luyện nhân lực tham gia OCOP,…Điều này là góp phần thực hiện các chủ trương chính sách của Chính phủ là xây dựng Chính phủ kiến tạo - liêm chính - hành động - bứt phá.
Tuy nhiên, ở giai đoạn 1 (2018 -2020) sự vào cuộc của hệ thống chính trị chưa đồng đều giữa các ngành. Trong khi cả hệ thống chính trị và ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng như nhiều ngành khác vào cuộc một cách quyết liệt nhằm thuyết phục, vận động bà con hình thành HTX, doanh nghiệp vừa và nhỏ, vật lộn cùng bà con để phát triển sản phẩm, lo đầu vào, tìm kiếm nơi bán hàng, hạch toán lỗ lãi,... thì có một số ngành đứng ngoài cuộc, thậm chí gây khó khăn cho người dân
  1. Cần hoàn thiện về tổ chức triển khai OCOP
Mấu chốt trong triển khai OCOP là cấp tỉnh và cấp huyện: Ở cấp tỉnh, đã hình thành "Phòng OCOP" tại Chi cục phát triển nông. Ở cấp huyện, nhiều huyện đã bố trí được 1 cán bộ phụ trách OCOP ở Phòng Nông nghiệp hoặc phòng Kinh tế. Cần tiếp tục giữ vững và kiện toàn hệ thống tổ chức này.
5) Cần Về nhân lực
Chương trình OCOP có khởi đầu nhưng không có kết thúc. Điều này có nghĩa OCOP là công việc lâu dài để phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn. Trong bối cảnh phải giảm biên chế, ở các huyện đều gặp khó khăn về bố trí nhân lực thực hiện OCOP, hầu hết các địa phương đều bố trí cán bộ kiêm nhiệm, dẫn đến quá tải về công việc. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm một số địa phương việc bố trí hơn mỗi huyện/thị 1 cán bộ chuyên trách là hoàn toàn có thể chấp nhận được.
Chất lượng cán bộ ở tỉnh và mỗi huyện liên quan đến thành bại của Chương trình. Khi bố trí được cán bộ “Tận tâm – Hiểu biết” thì OCOP ở địa phương đó thành công. Ngược lại, khi các cán bộ phụ trách “Lơ mơ – Vô cảm” thì Chương trình gặp đầy khó khăn, trắc trở và không thành công đúng nghĩa nhu mục tiêu của Chương trình. Về chuyên môn, các cán bộ này nên có nền tảng kinh tế hơn là nông nghiệp (thường có xu hướng tập trung vào chuyên môn). Các cán bộ này phải di chuyển nhiều để hỗ trợ cộng đồng, bởi vậy cần có sức khỏe, có phương tiện đi lại và muốn giao tiếp với cộng đồng. Do đó, việc bố trí cán bộ thực hiện OCOP bằng cách điều động những người "không biết đẩy đi đâu” là không phù hợp, và thậm chí dẫn đến thất bại. Các cán bộ này có nguồn gốc đào tạo đa dạng, do đó hiểu biết đầy đủ về các nguyên lý trong chương trình OCOP là không giống nhau. Cần thiết phải tiến hành đào tạo các cán bộ này.
  1. Về xây dựng kế hoạch
 Ngay ở khâu này, cần xác định và bố trí các nguồn lực sẵn từ ngân sách nhà nước có để hỗ trợ cộng đồng triển khai OCOP: Ngoài nguồn lực nông thôn mới, còn có các nguồn lực khác sẵn có như: Giảm nghèo, Khoa học công nghệ, khuyến công, đào tạo nghề,... Chỉ cần cân đối một phần chúng ta đã có một lượng kinh phí khá lớn, miễn là phù hợp với đối tượng, trình tự của các chương trình mục tiêu này. Tuy nhiên, chúng ta gặp khó khăn trong việc bố trí vốn bởi "sợ sai nguyên tắc". Để khắc phục điều này, cần rà soát các văn bản hiện hành và hướng dẫn các huyện cân đối vốn từ các nguồn sẵn có.
7) Triển khai chu trình OCOP
 Nhận thức chung: Chu trình OCOP thường niên giống như một cái cối xay: Khi quay một vòng (1 năm) thì ra nhiều gạo (sản phẩm – dịch vụ OCOP). Nếu chung ta không cho cái cối này quay (không triển khai chu trình) thì không thể ra sản phẩm theo đúng nghĩa của Chương trình OCOP.
Định hướng nhưng không giới hạn sản phẩm: Không lẫn với khái niệm “ngành hàng” và sản phẩm. Tuân thủ quy luật cạnh tranh của thị trường: Có cạnh tranh mới có phát triển. Để hạn chế các sản phẩm “na ná nhau”, có thể định hướng bằng chính sách như sản phẩm mới được ưu tiên hỗ trợ, hoặc đưa vào tiêu chí lựa chọn và thông qua đào tạo huấn luyện theo Chu trình. OCOP không phải là chương trình “Hàng Việt Nam chất lượng cao” và nhiều chương trình khác: Không chọn sản phẩm đã có sẵn và cho đăng ký, cho đi thi và treo giải. Điều này sai 3 nguyên tắc của Chương trình OCOP
Trong quá trình phát triển và thương mại hóa sản phẩm, phần người dân cần hỗ trợ nhất là: Tìm ý tưởng sản phẩm, xây dựng kế hoạch kinh doanh, triển khai kế hoạch kinh doanh, tìm nguồn vốn, tổ chức sản xuất, phát triển sản phẩm, nâng cao năng lực,… Điều này có nghĩa là Nhà nước phải đồng hành cùng người dân ngay từ khâu tìm ý tưởng sản phẩm.
  1. Chú trọng công tác Tuyên truyền, vận động
Cách khởi đầu OCOP tốt nhất là tổ chức “Hội nghị triển khai OCOP” cấp huyện, là bước 1 của Chu trình OCOP hằng năm. Điểm mấu chốt là: Mời được (ngoài hệ thống chính trị) người dân có ý tưởng đến dự, như giám đốc các HTX, các doanh nghiệp, tổ hợp tác, người dân có ý tưởng “làm ăn” đến dự; Không “nói miệng”, mà cần in đủ các mẫu ý tưởng sản phẩm và phát cho tất cả các cá nhân đến dự Hội nghị và hẹn thời hạn (thường không quá 2 tuần) nộp về huyện Hội nghị này nên do Bí thư/Chủ tịch, Phó bí thư/chủ tịch huyện chủ trì. Một khi người dân nộp ý tưởng sản phẩm, cả hệ thống OCOP sẽ có “việc làm” lâu dài.
 9) Lựa chọn ý tưởng sản phẩm
Để người dân đăng ký sản phẩm, không chỉ định: Bản chất cốt lõi trong phát triển cộng đồng là xuất phát từ dưới lên đã được tích hợp trong bước 1 và 2 của Chu trình OCOP. Thông qua tuyên truyền và phát phiếu đăng ký ý tưởng sản phẩm, người dân tự xác định và đề xuất ý tưởng sản phẩm. Một khi đã đề xuất, người dân sẽ tự giác theo đuổi ý tưởng của mình và giành nguồn lực để hiện thực nó. Nhà nước chỉ hỗ trợ sau khi người dân đề xuất. Các sản phẩm khác, dù có thể được cho là hay, có tiềm năng bởi các "cán bộ" nhưng người dân không đề xuất thì không thuộc phạm vi của Chương trình. Cần chú ý rào cản pháp lý tham gia thị trường khi hình thành ý tưởng: Chú ý các sản phẩm cần điều kiện sản xuất (không đạt không được sản xuất), như các sản phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe: Mỹ phẩm cần đủ điều kiện tiền GMP (Thực hành tốt sản xuất); Thực phẩm chức năng cần đạt GMP thực phẩm chức năng; Thuốc cần đạt GMP thuốc. Thực phẩm thông thường cần đủ điều kiện an toàn thực phẩm;… Nếu không/chưa đủ điều kiện về nguồn lực (mặt bằng, vốn, nhân lực, mối quan hệ) cần xác định lộ trình phù hợp.
10. Xây dựng phương án/kế hoạch kinh doanh
Đào tạo, huấn luyện những người có ý tưởng sản phẩm một cách đầy đủ mà không phải làm cho có, bởi các tập huấn viên thực sự hiểu biết và có kinh nghiệm thực tiễn mà không phải do những tập huấn viên chỉ có một mớ lý thuyết. Nội dung đào tạo đã được xác định rất rõ trong Chương trình.
 11. Triển khai kế hoạch kinh doanh
Phần của chủ thể: Trong con mắt người dân, HTX đã được in sâu là "gõ mõ/kẻng đi làm", bởi vậy rất khó vận động người dân gia nhập. Tuy nhiên, nếu được giải thích rõ ràng, bởi những chuyên gia có hiểu biết đầy đủ và có kinh nghiệm thực tiễn, người dân lại muốn tham gia hợp tác xã. Cũng cần phải kiên trì, bởi người dân thường đứng ngoài quan sát xem HTX “làm ăn” ra sao rồi mới gia nhập. Nhiều HTX thành lập trước đây qua việc hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới chưa được tổ chức và triển khai theo Luật HTX mới nhất, chưa thực hiện được bản chất của HTX, lúng túng trong cách quản trị, sản xuất và kinh doanh. Cần thiết phải tái cấu trúc lại các HTX (đã có) tham gia OCOP. Nếu được thực hiện một các nghiêm túc, Chương trình OCOP sẽ có đóng góp rất lớn trong thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế hợp tác ở vùng nông thôn.
Trong bối cảnh phần lớn các thành viên của các HTX đều là các cá nhân hoặc hộ gia đình trong một thôn, xã, từ đó găp khó khăn trong xác định tầm nhìn, huy động mối quan hệ, nguồn lực, công nghệ,… trong sản xuất kinh doanh, việc vận động các thành viên đa dạng trong chuỗi giá trị tham gia HTX (nghĩa là các hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp,… từ khâu trồng, chế biến, kinh doanh, đến đầu vào, cung ứng dịch vụ) nên được xem xét. Khi làm được điều này, bản thân mỗi HTX là một chuỗi giá trị đầy đủ. Điều này cũng rất quan trọng trong việc xây dựng các chuỗi giá trị sản xuất nông sản trong nước. Phần lớn các HTX đều có đội ngũ quản trị hoạt động bán thời gian, do đó không giành được thời gian và sức lực để tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách chuyên nghiệp. Bởi vậy, xây dựng được hệ thống tổ chức sản xuất kinh doanh là vấn đề sống còn của các HTX. Nhiều người đứng đầu HTX không có tinh thần hy sinh, không dám thế chấp sổ đỏ để có vốn. Điều này dẫn đến thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh Sản phẩm chưa đáp ứng nhu cầu khách hàng: Do chưa hiểu rõ nhu cầu khách hàng, phần lớn các chủ thể chỉ sản xuất cái mình có. Các sản phẩm truyền thống, vùng miền có thể phù hợp với khẩu vị của địa phương (như rau cải đắng, dưa chua) nhưng chưa chắc đã hợp khẩu vị khác hàng (chê đắng, chua quá). Cần phải cải tiến sản phẩm phù hợp thị hiếu hiện tại của khách hàng. Một số chủ thể thiết kế bao bì không phù hợp: Nhiều chủ thể tập trung bao bì đẹp quá cho sản phẩm tiêu dùng bình thường (có nơi chi đến 70% giá thành cho bao bì), trong khi đó giá của sản phẩm đã được khách hàng định nghĩa ở mức thấp. Điều này dẫn đến thua lỗ. Đóng gói không tiện dùng: Nhiều sản phẩm đóng 1 bao lớn nhưng khách cần nhiều gói nhỏ, như Miến dong. Một số chủ thể không hiểu biết/chưa được đào tạo, người dân lúng túng trong phát triển sản phẩm, dẫn đến bắt chước người khác. Điều này làm cho nhiều sản phẩm na ná nhau, khó bán.
12) Nguồn vốn: Ngoài tiền, còn nhiều cách huy động vốn. Nguồn lực từ người dân đã được xác định là rất lớn, lớn hơn nguồn lực từ nguồn ngân sách. Các nguồn lực này rất đa dạng, từ đất đai (góp thời gian sử dụng đất – không mất đất), đến nguyên vật liệu, nhân công, công nghệ, sở hữu trí tuệ,... Tất cả chúng cần được chuyển thành vốn góp trong quá trình hình thành các pháp nhân kinh doanh, như HTX, doanh nghiệp.
13) Quản trị chất lượng:
Không “ăn bớt” của khách hàng: Khi bán được hàng không cam kết các tiêu chuẩn chất lượng đã công bố, không tuân thủ các quy trình đã ban hành, không dùng nguồn nguyên liệu chuẩn mà thay thế bằng các nguồn nguyên liệu khác rẻ hơn,... Tất cả những điều trên dẫn đến giảm chất lượng sản phẩm, từ đó mất khách hàng.
14) Đào tạo huấn luyện: Thực hiện tập trung tại tỉnh: Điều này một mặt tiết kiệm nguồn kinh phí thuê mướn tư vấn đào tạo, một mặt có thể chọn các nhà tư vấn/tập huấn viên có chất lượng hơn. Điểm yếu của cách làm này là do số lượng học viên khá đông, nên tập huấn viên khó hỗ trợ đến cá nhân.
Các huyện tự thực hiện, do số lượng học viên ít hơn, có thể hạn chế được yếu điểm trên. Tuy nhiên cần chú ý chất lượng tập huấn viên: Do các huyện có ít kinh phí hơn, nên khó thuê được các tập huấn viên có chất lượng hơn.
 Hình thức đào tạo: Nên có tham quan học tập cả trong và ngoài nước. Nguồn kinh phí xã hội hóa, nghĩa là một phần từ nhà nước, một phần do các chủ thể bỏ ra.
15) Phát triển hệ thống đối tác OCOP
Đối tác OCOP là các doanh nghiệp và tư vấn (cá nhân hoặc pháp nhân) hợp tác trực tiếp với các chủ thể OCOP tại cộng đồng nhằm: i) Kéo dài chuỗi giá trị sản phẩm OCOP về cả hai phía: đầu vào và đầu ra (thường là với các doanh nghiệp); ii) Cung ứng các dịch vụ hỗ trợ (các nhà hỗ trợ chuỗi), như nghiên cứu phát triển sản phẩm, xây dựng tiêu chuẩn sản phẩm, lựa chọn công nghệ, tư vấn quản trị doanh nghiệp, đào tạo huấn luyện,... (thường là các cá nhân hoặc pháp nhân, như doanh nghiệp, trường đại học, viện...).
 Các đối tác OCOP và các chủ thể OCOP hợp tác với nhau bằng các hợp đồng, thỏa thuận, theo nguyên tắc "cùng thắng". Các doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất - kinh doanh sản phẩm OCOP, cung ứng dịch vụ/vật tư đầu vào, nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, dịch vụ hỗ trợ (thiết kế bao bì, nhãn mác, đăng ký/công bố sản phẩm, tư vấn luật, quản lý sản xuất bằng hệ thống tem điện tử thông minh,. Các tổ chức/DN này liên kết kéo dài chuỗi giá trị các sản phẩm OCOP đến thị trường đích.
16) Đánh giá sản phẩm OCOP
Nên cho các chủ thể OCOP tham gia các buổi đánh giá của Hội đồng cấp huyện, cấp tỉnh. Điều này tạo điều kiện cho các chủ thể giải trình các điểm chưa rõ, mặt khác giúp các chủ thể hiểu rõ các điểm yếu của mình, từ đó cải tiến sản phẩm.
Sản phẩm được phân hàng phải đạt các yêu cầu tối thiểu theo từng hạng sao (được quy định tại Quyết định781/QĐ TTg) trong đó tập trung vào một số yêu cầu chính sau:
1. Sữ dụng nguyên liêu và lao động địa phương. Sản phẩm 02 sao trở lên thì chủ thể phải sử dụng ít nhất 50% lao động địa phương.
2. Năng lực về sản xuất: Sản phẩm đạt OCOP từ 04 sao trở lên phải đạt được các yêu cầu về năng lực tổ chức sản xuất trong đó tập trung vào 02 nội dụng: chủ thể hoạt động có hiệu quả và tổ chức thực hiện liên kết theo hợp đồng.
3. Chất lượng sản phẩm và khả năng tiếp thị: Sản phẩm OCOP yêu cầu có chất lượng, câu chuyện đặc trưng. Sản phẩm 04 sao phải có chất lượng độc đáo, mang tính địa phương, câu chuyện phải đặc sắc và mang tính truyền thống có kênh phân phối sản phẩm và chứng nhận quản lý chất lượng tiên tiến.
Các loại giấy tờ bắt buộc
Trước khi tham gia thi đánh giá phân hạng sản phẩm các huyện và các chủ thể cần lưu ý các loại
TT Nội dung Yêu cầu
1 Yêu cầu bắt buộc  
1.1. Phiếu đăng ký tưởng sản phẩm, đăng ký sản phẩm Có mẫu đính kèm tại biểu số 01,02 QĐ 1048/ QĐ-TTg
1.2. Phương án, kế hoạch kinh doanh sản phẩm Có mẫu đính kèm tại biểu số 03 QĐ 1048/ QĐ-TTg
1.3. Giới thiệu bộ máy tổ chức Có mẫu đính kèm tại biểu số 04 QĐ 1048/ QĐ-TTg
1.4. Giấy đăng ký kinh doanh Bản sao có công chứng, chứng minh hoạt động kinh doanh hợp pháp (đối với các đơn vị/cá nhân có đăng ký kinh doanh)
1.5. Sản phẩm mẫu 05 đơn vị  sản phẩm (trừ sản phẩm dịch vụ)
2 Yêu cầu tài liệu minh chứng bổ sung  
2.1 Giấy đủ điều kiện sản xuất Bản sao có công chứng  (đối với sản phẩm cần phải có giấy chứng nhận hiện hành)
2.3.
 
Công bố chất lượng sản phẩm Bản sao tài liệu chứng minh tiêu chuẩn sản phẩm được công bố
2.4 Tiêu chuẩn sản phẩm Bản sao tài liệu chứng minh tiêu chuẩn sản phẩm được công bố
2.5 Phiếu kết quả kiểm tra chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn công bố Bản sao tài liệu, chứng minh đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm phẩm được
2.6 Mã số mã vạch, tem truy xuất nguồn gốc, chứng nhận sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu sản phẩm Bản sao, chứng minh mã, tem,sỡ hữu thương hiệu
2.7 Nguồn gốc nguyên liệu, liên kết chuỗi Bản sao tài liêu; giấy xác nhận, hợp đồng, hóa đơn…chứng minh việc mua bán nguyên liệu, hợp đồng thỏa thuận liên kết
2.8 Bảo vệ môi trường Bản sao tài liêu; giấy xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường; chứng minh cam kết, đánh giá tác động môi trường
2.9 Hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, kiểm soát chất lượng Bản sao tài liệu: Chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, chứng minh hệ thống quản lý đạt tiêu chuẩn
2.10 Kế toán Bản sao tài liệu, minh chứng hoạt động kế toán của cơ sở
2.11 Thị trường Bản sao tài liệu: Hợp đồng, cam kết, xác nhận, hình ảnh… về phân phối sản phẩm, minh chứng về thị trường phân phối, xuất khẩu sản phẩm
2.12 Hoạt động quảng bá xúc tiến thương mại Bản sao tài liệu: Hợp đồng, cam kết, xác nhận, hình ảnh…, minh chứng về các hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại
2.13 Câu chuyện sản phẩm Bản sao tờ rơi, văn bản, hình ảnh, phim, ghi âm, minh chứng về câu chuyện của sản phẩm
2.14 Kế hoạch kiểm soát chất lượng, ghi hồ sơ lô sản xuất… Bản sao tài liệu, minh chứng về hoạt động kiểm soát chất lượng sản phẩm theo từng lô sản xuất
2.15 Giải thưởng về chất lượng sản phẩm, bình chọn của các tổ chức uy tín trong nước và quốc tế… Bản sao tài liệu, minh chứng về các thành tích, giải thưởng, bình chọn… của cơ sở sản xuất, sản phẩm.

17) Xúc tiến thương mại
Điểm yếu của người dân: Bán hàng kém, thường quen với sản xuất (nuôi – trồng) không quen giao tiếp, bán hàng, dẫn đến không bán được hàng hoặc có xu hướng phụ thuộc vào nhà bao tiêu. Cần phải có tổ chức bán hàng bằng cách phân công người chịu trách nhiệm bán hàng, học cách bán hàng.
Nhiều địa phương chỉ tập trung làm sao thi được sản phẩm và thành tích là có bao nhiêu sản phẩm!. Vấn đề là nếu không bán được sản phẩm thì sẽ dẫn đến phá sản. Bởi vậy, cần nghiêm túc thực hiện công đoạn 6 của Chu trình OCOP (xúc tiến thương mại, bán hàng).
 Chương trình OCOP chỉ thành công khi “dán vào đầu” người dân/khách hàng cụm từ “OCOP là tử tế”. Đây là một một quá trình lâu dài (xây dựng thương hiệu). Các thông điệp truyền thông sản phẩm OCOP nên rõ ràng và nhất quán theo nội hàm “tử tế”./.
 

Nguồn tin: Nguyễn Hồ Lâm Phó Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn Nghệ An:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây